Cronbach's Alpha trong SPSS: cách chạy, đọc kết quả và quyết định loại biến
Cách chạy, đọc và báo cáo hệ số Cronbach's Alpha cho từng thang đo, kèm quy tắc loại biến có căn cứ thay vì xóa item chỉ để Alpha cao hơn.
Tóm tắt nhanh
- Cronbach's Alpha đo độ nhất quán nội tại của một thang đo nhiều biến; chạy riêng cho từng khái niệm qua Analyze → Scale → Reliability Analysis.
- Ngưỡng thường dùng: từ 0,70 là chấp nhận được (Nunnally & Bernstein, 1994); 0,60–0,70 có thể chấp nhận trong nghiên cứu khám phá (Hair & cộng sự, 2019); trên 0,95 có thể do item trùng lặp (Streiner, 2003).
- Tương quan biến-tổng hiệu chỉnh (Corrected Item-Total Correlation) nên từ 0,30 trở lên.
- Chỉ loại biến khi tương quan biến-tổng dưới 0,30, nội dung cho phép và Alpha tăng đáng kể; giữ ít nhất 3 biến mỗi thang đo.
- Tương quan biến-tổng âm gần như luôn do quên đảo chiều câu hỏi nghịch.
Cronbach's Alpha đo gì?
Cronbach's Alpha là hệ số đo độ nhất quán nội tại (internal consistency) của một thang đo gồm nhiều biến quan sát: các câu hỏi cùng đo một khái niệm có biến thiên cùng nhau hay không (Cronbach, 1951). Trong luận văn dùng SPSS, kiểm định Cronbach Alpha thường là bước đầu tiên sau khi làm sạch dữ liệu, trước EFA và hồi quy (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).
Trong đó k là số biến quan sát, σ2i là phương sai của từng biến và σ2X là phương sai của tổng điểm. Nói đơn giản: nếu các câu hỏi cùng tăng giảm với nhau, phương sai tổng điểm sẽ lớn hơn nhiều so với tổng phương sai từng câu, tỷ số trong ngoặc nhỏ đi và Alpha tiến về 1. Nếu các câu hỏi "mỗi câu một kiểu", Alpha tiến về 0, thậm chí âm.
Alpha phụ thuộc vào số biến. Với cùng tương quan trung bình giữa các biến là 0,30, Alpha chuẩn hóa bằng 0,68 khi có 5 biến, 0,81 khi có 10 biến và 0,90 khi có 20 biến. Vì vậy Alpha cao chưa chắc các câu hỏi liên kết chặt chẽ (Cortina, 1993).
Cách chạy Cronbach's Alpha trong SPSS
Trước khi chạy, hãy chắc rằng dữ liệu đã được mã hóa đúng thứ tự 1–5 và các câu đảo chiều đã được recode (xem xuất dữ liệu Google Form sang SPSS). Sau đó:
- Vào
Analyze → Scale → Reliability Analysis. - Đưa các biến của một khái niệm (ví dụ TC1–TC5) vào ô Items. Mỗi khái niệm chạy một lần riêng, không gộp toàn bộ bảng hỏi.
- Ở mục Model, giữ Alpha. Có thể đặt tên thang đo ở Scale label.
- Bấm Statistics, tích Item, Scale, Scale if item deleted trong Descriptives for, và Correlations trong Inter-Item. Bấm Continue rồi OK.
Cú pháp tương đương, tiện lưu lại và chạy lại:
RELIABILITY
/VARIABLES=TC1 TC2 TC3 TC4 TC5
/SCALE('Tin cay') ALL
/MODEL=ALPHA
/STATISTICS=DESCRIPTIVE SCALE CORR
/SUMMARY=TOTAL.
Reliability Analysis loại theo danh sách (listwise) các dòng thiếu giá trị ở bất kỳ biến nào; bảng Case Processing Summary cho biết số dòng bị loại.
Đọc bảng kết quả từng cột
Reliability Statistics
Cột Cronbach's Alpha là hệ số bạn báo cáo. Cột Cronbach's Alpha Based on Standardized Items (xuất hiện khi chọn Inter-Item) tính trên ma trận tương quan; nó khác nhiều so với Alpha thường khi các biến có phương sai rất chênh lệch. N of Items là số biến trong thang đo.
Item-Total Statistics
| Cột | Ý nghĩa | Cách dùng |
|---|---|---|
| Scale Mean if Item Deleted | Trung bình tổng điểm nếu bỏ biến này | Chủ yếu để tham khảo |
| Scale Variance if Item Deleted | Phương sai tổng điểm nếu bỏ biến này | Chủ yếu để tham khảo |
| Corrected Item-Total Correlation | Tương quan giữa biến với tổng các biến còn lại | Chỉ số chính để đánh giá từng biến |
| Squared Multiple Correlation | R² khi hồi quy biến theo các biến còn lại (chỉ có khi chọn Inter-Item) | Bổ sung, hiếm khi báo cáo |
| Cronbach's Alpha if Item Deleted | Alpha của thang đo nếu bỏ biến này | So với Alpha hiện tại |
Từ "Corrected" quan trọng: SPSS loại chính biến đó khỏi tổng trước khi tính tương quan, nên chỉ số không bị thổi phồng bởi việc biến tự tương quan với chính nó (Field, 2018).
Ngưỡng đánh giá hệ số Cronbach's Alpha
| Giá trị α | Đánh giá | Nguồn |
|---|---|---|
| ≥ 0,90 | Rất cao; trên 0,95 có thể do các câu hỏi trùng lặp nội dung | Streiner (2003) |
| 0,80 – 0,90 | Tốt | Nunnally & Bernstein (1994) |
| 0,70 – 0,80 | Chấp nhận được | Nunnally & Bernstein (1994) |
| 0,60 – 0,70 | Có thể chấp nhận trong nghiên cứu khám phá | Hair & cộng sự (2019) |
| < 0,60 | Thấp, cần xem lại thang đo hoặc dữ liệu | Hair & cộng sự (2019) |
Với từng biến, tương quan biến-tổng hiệu chỉnh từ 0,30 trở lên là ngưỡng phổ biến (Nunnally & Bernstein, 1994) và được dùng rộng rãi trong các nghiên cứu tại Việt Nam (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Hair và cộng sự (2019) đưa ra mức chặt hơn: tương quan biến-tổng trên 0,50 và tương quan giữa các biến trên 0,30.
Khi nào loại biến quan sát?
Sai lầm phổ biến là thấy cột Cronbach's Alpha if Item Deleted lớn hơn Alpha hiện tại là xóa ngay. Chỉ nên loại một biến khi đồng thời:
- Tương quan biến-tổng hiệu chỉnh dưới 0,30;
- Nội dung cho phép: bỏ câu đó không làm mất một khía cạnh quan trọng của khái niệm (giá trị nội dung);
- Alpha nếu loại biến tăng đáng kể, không chỉ thêm 0,002 hay 0,005.
Thêm vài nguyên tắc:
- Loại từng biến một rồi chạy lại, vì mọi chỉ số thay đổi sau mỗi lần loại.
- Giữ ít nhất 3 biến cho mỗi khái niệm (Hair & cộng sự, 2019).
- Không xóa biến chỉ để Alpha cao hơn khi thang đo đã đạt. Alpha quá cao do các câu gần như lặp lại nhau không phải là điều tốt (Streiner, 2003).
- Tương quan biến-tổng âm hoặc SPSS cảnh báo "The value is negative due to a negative average covariance among items" gần như luôn do câu đảo chiều chưa được recode. Hãy kiểm tra lại mục câu nghịch trong bài thang đo Likert trên Google Form trước khi nghĩ đến chuyện loại biến.
- Ghi lại mọi biến bị loại kèm lý do để báo cáo minh bạch.
Ví dụ: thang đo Tin cậy 5 biến
| Biến | Scale Mean if Item Deleted | Scale Variance if Item Deleted | Corrected Item-Total Correlation | Cronbach's Alpha if Item Deleted |
|---|---|---|---|---|
| TC1 | 13,94 | 7,163 | 0,746 | 0,732 |
| TC2 | 14,01 | 7,002 | 0,728 | 0,735 |
| TC3 | 13,86 | 7,374 | 0,713 | 0,743 |
| TC4 | 14,35 | 9,218 | 0,210 | 0,890 |
| TC5 | 14,08 | 7,213 | 0,696 | 0,746 |
Cách lập luận:
- Alpha tổng 0,812 đã đạt mức tốt, nên vấn đề không nằm ở cả thang đo mà ở một biến.
- TC4 có tương quan biến-tổng 0,210, dưới 0,30; các biến khác đều trên 0,69.
- Nếu bỏ TC4, Alpha tăng từ 0,812 lên 0,890, mức tăng đáng kể. Bỏ bất kỳ biến nào khác đều làm Alpha giảm.
- Xét nội dung: giả sử TC4 là "Công ty có nhiều chi nhánh thuận tiện", vốn đo sự tiện lợi hơn là sự tin cậy. Cả ba điều kiện đều thỏa nên loại TC4 là hợp lý.
Chạy lại với TC1, TC2, TC3, TC5: Alpha bằng 0,890 và tương quan biến-tổng nằm trong khoảng 0,730–0,788. Thang đo còn 4 biến, vẫn trên mức tối thiểu 3 biến. SPSS hiển thị dấu chấm thập phân; khi viết tiếng Việt, hãy thống nhất dùng dấu phẩy.
Giới hạn của Alpha và bước tiếp theo
Alpha cao không chứng minh thang đo đơn hướng, tức chỉ đo một khái niệm. Hai nhóm câu hỏi đo hai khái niệm khác nhau vẫn có thể cho Alpha cao nếu số biến đủ nhiều (Cortina, 1993). Alpha cũng giả định các biến đóng góp như nhau vào khái niệm. Vì vậy, sau Cronbach's Alpha cần:
- Phân tích nhân tố khám phá để kiểm tra cấu trúc: xem KMO, Bartlett và EFA.
- Bổ sung độ tin cậy tổng hợp và giá trị hội tụ, phân biệt: xem CR, AVE và HTMT.
Nếu muốn diễn tập toàn bộ chuỗi chỉ số trước khi có dữ liệu thật, phân hệ nghiên cứu SPSS của AutoFillForm tính Alpha, CR, AVE, HTMT trên bộ dữ liệu và xuất tệp .sps (dữ liệu kèm nhãn biến, nhãn giá trị) để bạn mở trong SPSS và tự chạy lại lệnh RELIABILITY ở trên. Dữ liệu mô phỏng chỉ dùng để thử bảng hỏi và luyện quy trình, không được dùng làm kết quả khảo sát.
Cách trình bày trong luận văn và checklist
Đoạn văn mẫu:
| Thang đo | Số biến ban đầu | Số biến còn lại | Cronbach's Alpha | Tương quan biến-tổng nhỏ nhất | Biến bị loại |
|---|---|---|---|---|---|
| Tin cậy (TC) | 5 | 4 | 0,890 | 0,730 | TC4 |
| Hài lòng (HL) | 4 | 4 | 0,857 | 0,642 | Không |
- Dữ liệu đã mã hóa đúng thứ tự và câu đảo chiều đã được recode.
- Chạy Reliability Analysis riêng cho từng khái niệm, có bật Scale if item deleted.
- Kiểm tra số dòng bị loại trong Case Processing Summary.
- Đối chiếu Alpha với ngưỡng đã nêu nguồn trong chương phương pháp.
- Biến có tương quan biến-tổng dưới 0,30 được xem xét cả về số liệu lẫn nội dung trước khi loại.
- Loại từng biến một, chạy lại, mỗi thang đo còn ít nhất 3 biến.
- Báo cáo Alpha trước và sau khi loại, kèm lý do loại biến.
- Tiếp tục với EFA và CR/AVE thay vì dừng ở Alpha.
Câu hỏi thường gặp
Nguồn tham khảo
- Cronbach, L. J. (1951). Coefficient alpha and the internal structure of tests. Psychometrika, 16(3), 297–334.
- Cortina, J. M. (1993). What is coefficient alpha? An examination of theory and applications. Journal of Applied Psychology, 78(1), 98–104.
- Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). McGraw-Hill.
- Streiner, D. L. (2003). Starting at the beginning: An introduction to coefficient alpha and internal consistency. Journal of Personality Assessment, 80(1), 99–103.
- Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., & Anderson, R. E. (2019). Multivariate data analysis (8th ed.). Cengage Learning.
- Field, A. (2018). Discovering statistics using IBM SPSS Statistics (5th ed.). SAGE Publications.
- Hoàng Trọng, & Chu Nguyễn Mộng Ngọc. (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (Tập 1 và 2). NXB Hồng Đức.
Ngưỡng đánh giá trong bài là quy ước phổ biến trong các tài liệu trên. Hãy đối chiếu với yêu cầu của giảng viên hướng dẫn hoặc tạp chí bạn nộp bài.